Trực tiếp sản xuất nông nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp và trong một số trường hợp còn liên quan đến điều kiện nhận chuyển nhượng đất trồng lúa. Vậy người trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hiểu như thế nào và việc xác định đối tượng này ảnh hưởng ra sao đến quá trình mua bán đất nông nghiệp? Hãy cùng Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ tìm hiểu thông tin qua bài viết dưới đây.
>>> Xem thêm: Có thể tra cứu lịch làm việc của văn phòng công chứng gần nhất tại Hà Nội tại đâu?
1. Trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hiểu như thế nào?
Khái niệm hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp hiện được quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật Đất đai 2024. Theo đó:
“Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là cá nhân đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất đó theo quy định của Chính phủ.”
Ngoài quy định nêu trên, Điều 3 Nghị định 102/2024/NĐ-CP cũng làm rõ hơn về đối tượng được xem là trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Theo đó, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất trên phần đất đó sẽ được xác định là trực tiếp sản xuất nông nghiệp, trừ các trường hợp dưới đây:
- Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan đang phục vụ trong lực lượng vũ trang; quân nhân chuyên nghiệp; công chức quốc phòng; công nhân và viên chức quốc phòng; sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân công an; người làm công tác cơ yếu hoặc người làm việc trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
- Người đang hưởng chế độ lương hưu;
- Người nghỉ mất sức lao động hoặc nghỉ việc nhưng đang nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng;
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Có thể hiểu, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là người đang sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp và tạo ra nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất trên đất đó, nhưng không thuộc các nhóm đối tượng bị loại trừ theo quy định pháp luật.
Đồng thời, việc xác định có trực tiếp sản xuất nông nghiệp hay không còn ảnh hưởng đến quyền mua bán, nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, nhất là đối với đất chuyên trồng lúa. Bởi trong một số trường hợp, đây là căn cứ để xem xét điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa cũng như hạn mức sử dụng đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 7 Điều 45 Luật Đất đai 2024.
2. Căn cứ xác định người trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, căn cứ xác định hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp từng được hướng dẫn tại Điều 3 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT. Tuy nhiên, quy định này đã bị bãi bỏ theo điểm d khoản 2 Điều 43 Thông tư 10/2024/TT-BTNMT và văn bản mới không tiếp tục quy định chi tiết nội dung này.
>>> Xem thêm: Lệ phí trước bạ được tính như thế nào? Những trường hợp nào được miễn các loại thuế phí khi làm dịch vụ sang tên sổ đỏ nhanh?
Mặc dù vậy, theo quy định trước đây tại Điều 3 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT, việc xác định hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp được căn cứ vào các yếu tố sau:
* Căn cứ xác định hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Khoản 3 Điều 3 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT quy định hộ gia đình được xem là trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi đáp ứng các điều kiện gồm:
(1) Đang sử dụng đất nông nghiệp
Hộ gia đình đang sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đồng thời, trường hợp hộ gia đình đã và đang sử dụng đất nông nghiệp nhưng chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cũng được xem xét.
(2) Có thành viên không thuộc nhóm hưởng lương thường xuyên
Trong hộ gia đình phải có ít nhất một người không thuộc nhóm hưởng lương thường xuyên từ ngân sách hoặc không thuộc nhóm đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động hay thôi việc được nhận trợ cấp xã hội hằng tháng.
(3) Có nguồn thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp
Nguồn thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất đang sử dụng phải mang tính ổn định, kể cả trường hợp tạm thời không có thu nhập do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc sự cố môi trường.
Lưu ý: Khi thực hiện việc giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất hoặc đăng ký nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa của hộ gia đình thì chỉ cần căn cứ điều kiện tại mục (2).

* Căn cứ xác định cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Đối với cá nhân, việc xác định trực tiếp sản xuất nông nghiệp trước đây được dựa trên các tiêu chí sau:
(1) Có sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp
Cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; bao gồm cả trường hợp sử dụng đất nhưng chưa được công nhận chính thức.
>>> Xem thêm: Mua bán nhà đất trên toàn quốc tháng 5/2026.
(2) Không thuộc đối tượng hưởng lương thường xuyên hoặc trợ cấp
Người đó không thuộc nhóm hưởng lương thường xuyên từ ngân sách, không phải người nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động hoặc thôi việc hưởng trợ cấp xã hội định kỳ.
(3) Có nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp
Có phát sinh nguồn thu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất đang sử dụng, kể cả khi nguồn thu bị gián đoạn bởi thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc các yếu tố khách quan khác.
Lưu ý: Trong trường hợp Nhà nước giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất hoặc đăng ký nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho đất trồng lúa của cá nhân thì chỉ xem xét điều kiện tại mục (2).
3. Người trực tiếp sản xuất nông nghiệp được ưu tiên khi Nhà nước thu hồi đất
Khoản 1 Điều 91 Luật Đất đai 2024 đã quy định nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó, việc bồi thường phải được thực hiện trên cơ sở bảo đảm tính khách quan, minh bạch, công bằng và đúng quy định pháp luật, đồng thời chú trọng đến nhóm đối tượng chính sách xã hội và người trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
Như vậy, cá nhân và hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp là một trong những nhóm được Nhà nước quan tâm khi thực hiện thu hồi đất.
Không chỉ vậy, khoản 3 Điều 96 Luật Đất đai 2024 còn quy định trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã sử dụng đất trước ngày 01/7/2004 nhưng chưa đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận vẫn có thể được xem xét bồi thường theo quy định của Chính phủ.
Cụ thể, nếu đất nông nghiệp đã được sử dụng ổn định trước thời điểm nêu trên và người sử dụng đất thuộc diện trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì dù chưa đáp ứng điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn có cơ sở để được bồi thường khi bị thu hồi đất.
Ngoài chính sách bồi thường, hộ gia đình và cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp còn có thể được hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm và tìm kiếm việc làm mới khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 109 Luật Đất đai 2024.
4. Cơ quan nào có thẩm quyền xác định người trực tiếp sản xuất nông nghiệp?
Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP (dù hiện nay nghị định này đã hết hiệu lực), cơ quan có thẩm quyền xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đăng ký thường trú.
Cụ thể, trong quá trình thực hiện thủ tục giao đất, đăng ký nhận tặng cho, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận hoặc giải quyết bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thì UBND cấp xã có trách nhiệm xác nhận cá nhân, hộ gia đình có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp.
Việc xác nhận được thực hiện như sau:
– UBND xã, phường, thị trấn nơi hộ gia đình hoặc cá nhân đăng ký thường trú sẽ xác nhận việc trực tiếp sản xuất nông nghiệp và nguồn thu nhập ổn định từ hoạt động này.
– Nếu nơi sử dụng đất khác với nơi đăng ký thường trú thì UBND nơi thường trú sẽ thực hiện xác nhận sau khi có văn bản của UBND cấp xã nơi có đất xác nhận về tình trạng sử dụng đất nông nghiệp của người dân.
>>> Có thể bạn quan tâm: Hướng dẫn chi tiết thủ tục mua nhà ở xã hội đối với người lao động tự do năm 2026.
Trên đây là giải đáp của chúng tôi về vấn đề “Trực tiếp sản xuất nông nghiệp là gì? Ảnh hưởng thế nào khi mua đất?”. Ngoài ra, nếu có bất kỳ thắc mắc nào hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ theo thông tin:
VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN HUỆ
Miễn phí dịch vụ công chứng tại nhà
VPCC Nguyễn Huệ được thành lập từ ngày 03/10/2012, có địa chỉ trụ sở tại số 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội dưới sự điều hành của các Công chứng viên có trình độ và bề dày thành tích trong ngành pháp luật cũng như trong lĩnh vực công chứng:
- Công chứng viên kiêm Trưởng Văn phòng Nguyễn Thị Huệ: Cử nhân Luật, cán bộ cấp cao, đã có 31 năm làm công tác pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng, hộ tịch, quốc tịch. Trong đó có 7 năm trực tiếp làm công chứng và lãnh đạo Phòng Công chứng.
- Công chứng viên Nguyễn Thị Thủy: Thẩm Phán ngành Tòa án Hà Nội với kinh nghiệm công tác pháp luật 30 năm trong ngành Tòa án, trong đó 20 năm ở cương vị Thẩm Phán.
- Công chứng viên Chu Cảnh Hưng: Đã từng làm 10 năm Viện phó viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trưởng văn phòng công chứng Chu Cảnh Hưng.
- Công chứng viên Nguyễn Thị Kim Thanh: Là Luật sư, nguyên Trưởng Văn phòng công chứng tại Bắc Ninh với nhiều năm kinh nghiệm quản lý và điều hành nghiệp vụ. Chuyên gia dày dạn trong việc thẩm định hồ sơ pháp lý, giải quyết những hồ sơ khó và phức tạp một cách chuẩn xác nhất.
- Xem thêm…
- Địa chỉ: 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, Hà Nội
- Hotline: 0966.22.7979
- Email: ccnguyenhue165@gmail.com
XEM THÊM CÁC TỪ KHÓA TÌM KIẾM:
>>> Văn phòng công chứng gần nhất có cung cấp dịch vụ công chứng lưu động không?
>>> Thủ tục công chứng hợp đồng mua bán xe được thực hiện qua mấy bước?
>>> Các văn phòng công chứng tại quận Ba Đình có công chứng ngoài giờ hành chính không?
>>> Di chúc không công chứng có hiệu lực pháp lý hay không? Thủ tục làm sổ đỏ thừa kế nhanh chóng hàng đầu Hà Nội.
>>> Đất vườn có thời hạn bao nhiêu năm?
